Mục tiêu nghiên cứu:

- Mô tả thực trạng kiểm soát đường huyết của người mắc đái tháo đường típ 2 khám và điều trị tại BV 199.

- Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục tự quản lý kiểm soát đường huyết – thay đổi lối sống qua ứng dụng điện thoại thông minh ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện 199.

 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đến điều trị ngoại trú tại bệnh viện 199 - BCA từ tháng 02/2025 đến tháng 12 /2025.

- Phương pháp nghiên cứu: 120 người bệnh đái tháo đường típ 2 được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm can thiệp (giáo dục sức khỏe cá nhân) và nhóm chứng. Nhóm can thiệp tham gia chương trình DSMES, kèm tiếp tục tái khám và điều trị như thông thường. Can thiệp giáo dục sức khỏe này không áp dụng cho nhóm chứng

 Nghiên cứu can thiệp trước – sau được tiến hành trên 120 bệnh nhân đái tháo đường tip 2 điều trị ngoại trú và được phân vào 2 nhóm: nhóm can thiệp (giáo dục sức khỏe cá nhân) và nhóm chứng. Nhóm can thiệp sẽ được giáo dục sức khỏe với hình thức cá nhân về tự quản lý bệnh đái tháo đường.Can thiệp giáo dục sức khỏe này không áp dụng cho nhóm chứng. Các bệnh nhân được tham gia chương trình giáo dục tự quản thông qua ứng dụng điện thoại thông minh trong thời gian 03 tháng, bao gồm: cung cấp kiến thức về bệnh đái tháo đường, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng, vận động thể lực, tuân thủ điều trị, tự theo dõi đường huyết và quản lý lối sống. Các chỉ số đánh giá gồm HbA1c, glucose huyết đói, chỉ số khối cơ thể (BMI), đặc điểm lâm sàng, phương thức điều trị, biến chứng mạn, hành vi tự quản và mức độ sử dụng ứng dụng. Số liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan.

Phương pháp chọn mẫu: Những người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phân ngẫu nhiên.Lựa chọn đến khi đủ 60 người bệnh ở mỗi nhóm.

Từ khóa: Đái tháo đường típ 2, Giáo dục tự quản lý đái tháo đường (DSMES), Sức khỏe số, Ứng dụng điện thoại thông minh, Thay đổi hành vi, Kiểm soát đường huyết.

Objectives:This study aimed to describe the clinical and paraclinical characteristics and glycemic control status of patients with type 2 diabetes mellitus treated at Hospital 199, and to evaluate the effectiveness of a smartphone-based DSMES program on glycemic control and lifestyle modification in patients with T2DM

Methods:A randomized controlled, pre–post intervention study was conducted among 120 outpatients with type 2 diabetes mellitus at Hospital 199 – Ministry of Public Security, from February to December 2025. Participants were randomly assigned into an intervention group (n = 60) and a control group (n = 60). The intervention group received a 3-month DSMES program delivered via a smartphone application, in addition to standard medical care. The program included education on diabetes knowledge, nutrition, physical activity, medication adherence, self-monitoring of blood glucose, and lifestyle management. The control group received routine care only, Outcome measures included HbA1c, fasting plasma glucose, body mass index (BMI), clinical characteristics, treatment modalities, chronic complications, self-management behaviors (assessed using the Summary of Diabetes Self-Care Activities scale), and level of application use Data were analyzed using descriptive statistics, pre–post comparisons, and correlation analyses

Results:After 3 months of intervention, the intervention group demonstrated significant improvements in HbA1c, fasting plasma glucose, BMI, and self-management behavior scores compared with baseline and the control group (p < 0.05). Higher levels of engagement with the DSMES application were positively correlated with better glycemic control

Conclusions:The smartphone-based DSMES program was effective in improving glycemic control and self-management behaviors among patients with type 2 diabetes mellitus. Digital health–based education programs may serve as a feasible and effective adjunct to routine diabetes care in outpatient settings

Keywords:Type 2 diabetes mellitus, Diabetes self-management education and support (DSMES), Digital health, Smartphone application, Glycemic control

  1. Đặt vấn đề:

Đái tháo đường típ 2 là bệnh lý mạn tính phổ biến, có xu hướng gia tăng nhanh và là nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến chứng tim mạch, thận, thần kinh và mắt. Kiểm soát đường huyết lâu dài, đặc biệt thông qua chỉ số HbA1c, có vai trò quyết định trong việc làm giảm nguy cơ biến chứng và tử vong. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c theo khuyến cáo còn thấp. Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự hạn chế trong kiến thức, kỹ năng tự quản bệnh và tuân thủ điều trị. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là các ứng dụng điện thoại thông minh, đã mở ra hướng tiếp cận mới trong giáo dục tự quản cho người bệnh đái tháo đường.

Theo hướng dẫn của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) 2025 và hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ típ 2 của Bộ Y tế Việt Nam ban hành 2020, việc điều trị đái tháo đường típ 2 luôn cần phối hợp 3 yếu tố là thay đổi lối sống, kiểm soát cân nặng và điều trị thuốc. Trong đó, thay đổi lối sống với tăng thời gian hoạt động thể lực và chế độ ăn lành mạnh là can thiệp đơn giản, rẻ tiền nhưng thực sự hiệu quả không chỉ với ĐTĐ mà còn với nhiều bệnh lý mạn tính khác. Chế độ ăn thích hợp như giảm lượng tinh bột, chất béo bão hòa, tăng chất xơ kết hợp với những bài tập đa dạng như tập luyện đối kháng, nhịp điệu, thăng bằng, tăng sức cơ… giúp điều hòa ĐH và hiệu quả trong giảm HbA1c.

Hiện nay, theo khuyến cáo của ADA 2025, chương trình giáo dục tự quản lý đái tháo đường (DSMES) vẫn là lựa chọn hàng đầu trong can thiệp thay đổi lối sống cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2. DSMES là một chương trình hỗ trợ, giáo dục về sức khỏe được thiết kế cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2 trong việc tự quản lý bệnh. Chương trình này nhằm mục đích giúp bệnh nhân nắm rõ về bệnh, cách quản lý đường huyết và sống một cuộc sống hợp lý với bệnh. DSMES là sự kết hợp giữa giáo dục và hỗ trợ, gồm các buổi học về kiến thức về bệnh và cách quản lý bệnh, cẩm nang về dinh dưỡng và sức khỏe, các buổi tập luyện thể dục, và hỗ trợ về mặt chuyên môn, tâm lý từ các chuyên gia sức khỏe và nhóm bệnh nhân tham gia chung.

  1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

 2.1 Đối tượng nghiên cứu.

- BN được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 theo tiêu chuẩn ADA 2025

- BN ĐTĐ típ 2 đang điều trị tại phòng khám Nội Tiết, Bệnh viện 199, Đà Nẵng.

 Tiêu chuẩn lựa chọn:

 Người bệnh tuổi 18 trở lên; có thể nói, đọc và hiểu tiếng Việt; có điện thoại thông minh và sử dụng được những tính năng cơ bản; đồng ý và cam kết tham gia đầy đủ chương trình.

Tiêu chuẩn loại trừ:

 Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ lần đầu; người có bệnh lý về máu; người bệnh sa sút trí tuệ bệnh cấp tính; người bệnh là người nước ngoài hoặc gặp các tình huống không thể tham gia; người bệnh tham gia một thử nghiệm lâm sàng, chương trình can thiệp khác.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả có so sánh

Công cụ thu nhập số liệu:

Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi phiên bản gốc tiếng Anh sang tiếng Việt với sự cho phép sử dụng của tác giả. Các chuyên gia ngoại ngữ và bác sĩ nội tiết phiên dịch bộ câu hỏi tiếng Anh theo qui trình của WHO để đảm bảo về ngữ nghĩa và tính chuyên môn của bộ câu hỏi trong quá trình chuyển ngữ.

Cấu trúc bộ câu hỏi gồm 4 phần:

- Phần 1 bao gồm các câu hỏi đánh giá các đặc điểm nhân khẩu học

- Phần 2 gồm 16 câu hỏi kiến chung về bệnh đái tháo đường.

Chương trình can thiệp:

Những người tham gia được chọn ngẫu nhiên nhận được sự chăm sóc thường quy từ các bác sĩ và điều dưỡng. Tham gia chương trình DSMES, kèm tiếp tục tái khám, điều trị như thông thường nhưng nhóm can thiệp thì thêm tự quản lý thông qua điện thoại thông minh.

Phương pháp nghiên cứu:

 Nghiên cứu mô tả so sánh can thiệp được tiến hành trên 120 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú và được phân vào 2 nhóm: nhóm can thiệp (giáo dục sức khỏe cá nhân) và nhóm chứng. Nhóm can thiệp sẽ được giáo dục sức khỏe với hình thức cá nhân về tự quản lý bệnh đái tháo đường.Can thiệp giáo dục sức khỏe này không áp dụng cho nhóm chứng. Các bệnh nhân được tham gia chương trình giáo dục tự quản thông qua ứng dụng điện thoại thông minh trong thời gian 03 tháng, bao gồm: cung cấp kiến thức về bệnh đái tháo đường, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng, vận động thể lực, tuân thủ điều trị, tự theo dõi đường huyết và quản lý lối sống. Các chỉ số đánh giá gồm HbA1c, glucose huyết đói, chỉ số khối cơ thể (BMI), đặc điểm lâm sàng, phương thức điều trị, kiến thức và mức độ sử dụng ứng dụng. Số liệu được xử lý bằng các phương pháp kiểm định phi tham số, thống kê mô tả và phân tích tương quan Spearman. Kết cục tiên phát HbA1c, glucose máu sau 3 tháng và kết cục thứ phát BMI, kiến thức chung về đái tháo đường, mức sử dụng ứng dụng.

Phương pháp chọn mẫu: Những người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phân ngẫu nhiên. Lựa chọn đến khi đủ 60 người bệnh ở mỗi nhóm.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh đái tháo đường típ 2

Thông số

Chung (n=120)

Nhóm can thiệp (n=60)

Nhóm chứng

(n=60)

p

Tần số

Tỷ lệ

Tần số

Tỷ lệ

Tần số

Tỷ lệ

 

Giới tính

Nam

54

45

26

43.3

28

46.7

0,714*

Nữ

66

55

34

56.7

32

53.3

Học vấn

Cấp 1

28

23,3

13

21,7

15

25

0,973*

Cấp 2

17

14,2

9

15

8

13,3

Cấp3

39

32,5

20

33,3

19

31,7

>TC- CĐ

36

30

18

30

18

30

Nghề nghiệp

Nông dân

26

21,7

13

21,7

13

21,7

0,934**

Viên chức

4

3,3

1

1,7

3

5

Công nhân

8

6,7

5

8,3

3

5

Nội trợ

6

5

3

5

3

5

Buôn bán

4

3,3

2

3,3

2

3,3

Già nghỉ hưu

72

60

36

60

36

60

Hôn nhân

Kết hôn

115

95,8

56

93,3

59

98,3

0,364**

Độc thân

5

4,2

4

6,7

1

1,7

Chung sống

Một mình

113

94,2

55

91,7

58

96,7

0,439**

Gia đình

7

5,8

5

8,3

2

3,3

Bệnh kèm

111

92,5

54

90

57

95

0,491**

Không

9

7,5

6

10

3

5

Liệu pháp điều trị

Uống thuốc

111

92,5

54

90

57

95

0,322**

Tiêm insulin

3

2,5

1

1,7

2

3,3

Uống thuốc + tiêm insulin

6

5

5

8,3

1

1,7

Mức độ sử dụng ứng dụng

Sử dụng ít

32

26,7

13

21,7

19

31,7

0,224*

Sử dụng trung bình

61

50,8

30

50

31

51,7

Sử dụng nhiều

27

22,5

17

28,3

10

16,7

** Fisher * Chi-square

Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu

Thông số

Chung

(n=120)

Nhóm can thiệp (n=60)

Nhóm chứng

(n=60)

p

Tần số

Tỷ lệ

Tần số

Tỷ lệ

Tần số

Tỷ lệ

 

Tuổi (năm)

<45

6

5

2

3,3

4

6,7

0,086**

45-65

70

58,3

41

68,3

29

48,3

>65

44

36,7

17

28,4

27

45

TV + KTPV

62,5

(57-68)

61

(56,25-67)

64,5

(60-72)

0,039***

Thời gian mắc đái tháo đường (năm)

TV + KTPV

7

(4-8)

7

(5-8)

5

(4-8)

0,06***

Hba1c trước can thiệp (%)

TV + KTPV

6,2

(5,9 – 7)

6,2

(5,93 – 7)

6,15

(5,83 – 6,92)

0,476***

Huyết áp tâm thu (mmHg)

TV + KTPV

130

(120-130)

130

(120-130)

130

(120-130)

0,405***

Huyết áp tâm trương (mmHg)

TV + KTPV

80

(70-80)

80

(70-80)

80

(70-80)

0,853***

Cholesterol (mmol/l)

TV + KTPV

4,4

(3,6-5,3)

4,4

(3,6-5.225)

4,55

(3,5-5,45)

0,846***

HDL (mmol/l)

TV + KTPV

1,1

(1-1,4)

1,1

(1-1,4075)

1,2

(1-1,3)

0,689***

LDL (mmol/l)

TV + KTPV

2,6

(1,91-3,43)

2,4

(1,91-3,395)

2,72

(1,925-3,515)

0,603***

Triglycerid (mmol/l)

TV + KTPV

1,5

(1-2,1)

1,55

(1-2,175)

1,5

(1,025-2,075)

0,515***

Cân nặng (kg)

TV + KTPV

60

(55-67,75)

62

(56,25 – 67,75)

59

(55-67,5)

0,249***

Chiều cao (m)

TV + KTPV

1,6

(1,55 – 1,65)

1,62

(1,55 – 1,67)

1,59

(1,55 – 1,65)

0,248***

BMI (kg/m2)

TV + KTPV

23,42

(22,08-24,65)

23,56

(22,23 – 24,22)

22,89

(21,88 – 24,73)

0,556***

a: TV + KTPV                 *** Man-whitney               ** Fisher

Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu giữa 2 nhóm cũng như giữa 2 cơ sở điều trị trước và sau can thiệp.

4.2. Mối tương quan giữa HbA1c và các yếu tố lâm sàng – cận lâm sàng

4.2.1. Tương quan giữa HbA1c và các yếu tố nhân trắc – lâm sàng

HbA1c có mối tương quan thuận mức độ mạnh với thời gian mắc bệnh (rs = 0,69; p = 0,000).

=> Điều này cho thấy bệnh nhân mắc bệnh lâu năm có xu hướng kiểm soát đường huyết kém hơn.

4.2.2. Tương quan giữa HbA1c và glucose huyết đói

Phân tích tương quan cho thấy HbA1c có tương quan thuận mức độ với glucose huyết đói (rs= 0,46; p = 0,000).

anh-man-hinh-2026-03-11-luc-213019-1773239506.png

4.2.3. Tương quan giữa HbA1c và phương thức điều trị

HbA1c ở nhóm điều trị insulin cao hơn so với nhóm dùng thuốc uống đơn thuần. Điều này phản ánh nhóm bệnh nhân điều trị insulin thường có thời gian mắc bệnh dài hơn và mức độ bệnh nặng hơn.

4.3. Hiệu quả chương trình giáo dục tự quản kiểm soát đường huyết qua ứng dụng điện thoại thông minh

4.3.1. So sánh HbA1c, glucose máu đói trước và sau can thiệp

So sánh HbA1c và glucose máu đói trước và sau 3 tháng can thiệp giữa hai nhóm cho thấy chương trình giáo dục tự quản qua ứng dụng điện thoại thông minh có hiệu quả cải thiện kiểm soát đường huyết.

Bảng 3. So sánh HbA1c trước và sau can thiệp

Thông số

Chung

(n=120)

Nhóm can thiệp

(n=60)

Nhóm chứng (n=60)

P**

Hba1c (%)

TV (KPTV)

Trước

6,2 (5,9 – 7)

6,2 (5,93 – 7)

6,15 (5,83 – 6,92)

0,476

Sau

6,1 (5,8 – 6,7)

6 (5,8 – 6,45)

6,2 (5,83 – 6,95)

0,043

P*

 

0,214

0,001

0,163

 

*Wilcoxon test ** Mann – Whitney test

Bảng 4. So sánh glucose máu đói trước và sau 3 tháng can thiệp

Thông số

Chung

(n=120)

Nhóm can thiệp

(n=60)

Nhóm chứng (n=60)

P**

Đường huyết lúc đói (mmol/l)

Trước

7,4 (6,6 – 8,6)

7,4( 6,6 – 8,48)

7,4 (6,6 – 8,93)

0,611

Sau

7,4 (6 – 8,6)

6,4 (5,43 – 7,68)

8,15 (7,13 – 10,08)

0,000

P*

 

0,353

0,000

0,000

 

*Wilcoxon test ** Mann – Whitney test

Hiệu quả chương trình giáo dục sức khoẻ

Bảng 5: So sánh kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe

Thông số

Chung

(n=120)

Nhóm can thiệp

(n=60)

Nhóm chứng (n=60)

P**

Điểm kiến thức đái tháo đường

Trước

17 (13 – 19)

16,5( 13 – 19)

17 (15 – 19)

0,401

Sau

18 (16 – 19)

18 (16,25 – 20)

17 (15 – 19)

0,039

P*

 

0,000

0,000

0,206

 

* Man-whitney ** Wilcoxon test

Nhận xét:

- Trước giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p >0,05). Sau giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

- Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ ở nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p< 0,001)

Bảng 6: So sánh khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe

Thông số

Chung

(n=120)

Nhóm can thiệp

(n=60)

Nhóm chứng (n=60)

P**

Kiến thức

Trước

17 (13 – 19)

16,5( 13 – 19)

17 (15 – 19)

0,401

Sau

18 (16 – 19)

18 (16,25 – 20)

17 (15 – 19)

0,039

P*

 

0,000

0,000

0,206

 

* Man-whitney ** Wilcoxon test

4.3.2. Tương quan giữa mức độ sử dụng ứng dụng và thay đổi HbA1c

 

anh-man-hinh-2026-03-11-luc-213326-1773239789.png

4.3.3. Tương quan giữa thay đổi hành vi tự quản và cải thiện kiểm soát đường huyết

Phân tích cho thấy cải thiện các hành vi tự quản như tuân thủ chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và theo dõi đường huyết có tương quan nghịch với HbA1c, trong đó tuân thủ chế độ ăn có mối liên quan mạnh nhất.

4.3.4. Tương quan giữa thay đổi BMI và thay đổi HbA1c

anh-man-hinh-2026-03-11-luc-213704-1773239923.png

4.3.5. Tương quan giữa thời gian mắc bệnh và đáp ứng can thiệp

Phân tích cho thấy thời gian mắc bệnh có tương quan thuận với đáp ứng can thiệp (rs = 0,247; p = 0,007).

anh-man-hinh-2026-03-11-luc-213752-1773239953.png

Bảng 7: Hồi quy đa biến các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm soát Hba1c

Thông số

B

R2 hiệu chỉnh

t

95%CI

p

Hằng số

0,125

0,192

0,318

(-0,652 – 0,901)

0,751

Tuổi

0

0,095

(-0,008 – 0,009)

0,924

Giới tính

0,066

0,733

(-1,13 – 0,246)

0,465

Hôn nhân

-0,113

-0,529

( -0,536 – 0,31)

0,598

Học vấn

-0,026

-0,688

(-0,101 – 0,049)

0,493

Sử dụng ứng dụng trên điện thoại thông minh

0,3

4,913

(0,179 – 0,421)

0,000

Phương pháp điều trị đái tháo đường

-0,005

-0,054

(-0,195 – 0,185)

0,957

Béo phì

-0,073

-0,841

( - 0,245 – 0,099)

0,402

b: Hệ số hồi qui; a :điểm cắt trên trục tung; R: hệ số tương quan; p: ý nghĩa thống kê

Nhận xét: Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến Hba1c thì chỉ có sử dụng ứng dụng là yếu tố ảnh hưởng độc lập tới kiểm soát Hba1c tốt hơn sau can thiệp.

5. BÀN LUẬN

5.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 120 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, bao gồm 60 bệnh nhân nhóm can thiệp và 60 bệnh nhân nhóm chứng. Tuổi trung vị của đối tượng nghiên cứu là 62,5 (57-68) tuổi, trong đó nữ chiếm 55%. Có sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu có lẽ về chọn mẫu ngẫu nhiên nhưng cũng giới hạn ở kỹ năng sử dụng ứng dụng của từng bệnh nhân nên nhóm can thiệp có độ tuổi nhỏ nên chúng tôi sử dụng đa biến để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm soát đường huyết.

Thời gian mắc bệnh trung vị là 7 (4-8) năm. Chỉ số BMI trung vị của bệnh nhân là 23,42 (22,08-24,65) kg/m². Về kiểm soát đường huyết, HbA1c trung vị ban đầu là 6,2 (5,9 – 7)%. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong nước, cho thấy phần lớn bệnh nhân đái tháo đường típ 2 chưa kiểm soát đường huyết tối ưu, mặc dù đã được điều trị.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị X. (2021) tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân không đạt mục tiêu HbA1c là 68–75%, tương đồng với kết quả của nghiên cứu này. Trên thế giới, các nghiên cứu như NHANES (Hoa Kỳ) và ADVANCE cũng cho thấy tỷ lệ kiểm soát đường huyết chưa đạt còn dao động từ 60–70%. Điều này cho thấy kiểm soát đường huyết vẫn là thách thức lớn trong quản lý bệnh đái tháo đường típ 2. Nguyên nhân có thể liên quan đến việc tuân thủ điều trị chưa tốt, hạn chế trong giáo dục tự quản, cũng như thiếu các công cụ hỗ trợ theo dõi và thay đổi hành vi lối sống một cách liên tục và cá nhân hóa.

Trong nghiên cứu này, glucose máu đói của nhóm chứng tăng có ý nghĩa thống kê sau 3 tháng theo dõi. Một trong những nguyên nhân có thể giải thích cho hiện tượng này là nhóm chứng chỉ nhận chăm sóc thường quy mà không có công cụ hỗ trợ tự quản liên tục. Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy giáo dục và hỗ trợ tự quản đái tháo đường DSMES đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì kiểm soát đường huyết thông qua cải thiện tuân thủ chế độ ăn, hoạt động thể lực, sử dụng thuốc và theo dõi đường huyết [9]. Khi không có sự hỗ trợ có cấu trúc như vậy, bệnh nhân có thể dần giảm động lực duy trì các thay đổi lối sống, dẫn đến kiểm soát đường huyết kém hơn theo thời gian.

Ngoài ra, nhiều bằng chứng cho thấy các can thiệp y tế số, đặc biệt là các ứng dụng trên điện thoại thông minh, có thể tăng cường sự tham gia của bệnh nhân, hỗ trợ theo dõi liên tục và cung cấp phản hồi kịp thời, từ đó cải thiện kết quả kiểm soát đường huyết [10]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm can thiệp được tiếp cận các chức năng hỗ trợ này, trong khi nhóm chứng không có sự hỗ trợ hành vi tương tự. Điều này có thể góp phần giải thích sự gia tăng glucose máu đói quan sát được ở nhóm chứng.

Đáng lưu ý, trong suốt thời gian nghiên cứu, việc điều trị bằng thuốc được thực hiện theo hướng dẫn điều trị chuẩn của bệnh viện và không ghi nhận sự khác biệt có hệ thống về điều chỉnh thuốc giữa hai nhóm. Do đó, sự thay đổi quan sát được nhiều khả năng liên quan đến sự khác biệt về hỗ trợ tự quản hơn là do phác đồ điều trị.

5.2. Mối liên quan giữa HbA1c và các yếu tố lâm sàng – cận lâm sàng

5.2.1. HbA1c và thời gian mắc bệnh, BMI

Nghiên cứu ghi nhận HbA1c có tương quan thuận mức độ trung bình với thời gian mắc bệnh (r = 0,45) và BMI (r = 0,36). Kết quả này phù hợp với sinh lý bệnh của đái tháo đường típ 2, khi chức năng tế bào beta tụy suy giảm dần theo thời gian, trong khi thừa cân – béo phì làm gia tăng đề kháng insulin.

Kết quả tương đồng với nghiên cứu UKPDS, cho thấy HbA1c có xu hướng tăng theo thời gian mắc bệnh, bất kể phác đồ điều trị. Nghiên cứu của Hu và cs. (2019) cũng cho thấy BMI cao là yếu tố dự báo kiểm soát đường huyết kém. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của can thiệp sớm và quản lý cân nặng trong điều trị đái tháo đường típ 2.

5.2.2. HbA1c và glucose huyết đói

Nghiên cứu cho thấy HbA1c có tương quan thuận chặt chẽ với glucose huyết đói (r = 0,68; p < 0,001). Kết quả này phù hợp với cơ chế bệnh sinh và các nghiên cứu trước đây, khẳng định glucose huyết đói đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị HbA1c. Theo ADA, glucose huyết đói tăng kéo dài góp phần đáng kể vào tăng HbA1c, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 giai đoạn sớm. Do đó, việc kiểm soát glucose huyết đói hiệu quả có ý nghĩa quan trọng trong cải thiện kiểm soát đường huyết toàn diện. Ở nhóm chứng kết quả glucose đói sau 3 tháng có tăng hơn so với trước can thiệp có thể do sự khác biệt về phác đồ điều trị gây ảnh hưởng tới đường huyết đói, tuy nhiên về kiểm soát đường huyết trung bình thì ở nhóm chứng vẫn không có sự khác biệt giữa hai nhóm.

5.2.3. HbA1c và phương thức điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân điều trị bằng insulin có HbA1c trung bình cao hơn so với nhóm dùng thuốc uống đơn thuần. Điều này không phản ánh insulin kém hiệu quả mà cho thấy nhóm bệnh nhân này thường có thời gian mắc bệnh dài hơn, mức độ bệnh nặng hơn và dự trữ insulin nội sinh suy giảm.

Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Holman và cs. (UKPDS), cho thấy insulin thường được chỉ định ở giai đoạn muộn của bệnh, khi việc kiểm soát đường huyết đã trở nên khó khăn hơn. Trên nghiên cứu của chúng tôi phác đồ điều trị trước sau can thiệp giữa hai nhóm không có sự thống nhất do lý do bệnh nhân được điều trị ngoại trú phác đồ thay đổi theo từng loại thuốc hiện có trong kho bảo hiểm và ý kiến chuyên môn của các bác sĩ khác nhau và đây cũng là yếu tố gây nhiễu đến mức độ kiểm soát đường huyết. Chúng tôi có phân tích đa biến thì yếu tố phương pháp điều trị cũng chưa không có ý nghĩa ảnh hưởng tới việc kiểm soát đường huyết.

5.3. Hiệu quả của chương trình giáo dục tự quản qua ứng dụng điện thoại thông minh

5.3.1. Hiệu quả cải thiện HbA1c sau can thiệp

Sau 3 tháng can thiệp, HbA1c trung bình của nhóm can thiệp giảm 0,2%, trong khi nhóm chứng chỉ tăng nhẹ và không có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt đường huyết có ý nghĩa thống kê ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe (p= 0,001). Qua kết quả cho thấy ảnh hưởng tích cực của giáo dục sức khỏe lên đường huyết của nhóm can thiệp so với nhóm chứng, kết quả cho thấy sự cải thiện của đường huyết trong nhóm người bệnh được giáo dục sức khỏe so với lúc đầu.

5.3.2. Mức độ sử dụng ứng dụng và hiệu quả can thiệp

Nghiên cứu cho thấy mức độ sử dụng ứng dụng có tương quan thuận rõ rệt với thay đổi HbA1c (rs = 0,463). Bệnh nhân sử dụng ứng dụng thường xuyên đạt mức giảm HbA1c cao hơn, cho thấy hiệu quả của chương trình phụ thuộc nhiều vào mức độ tuân thủ. Khi có sự giáo dục liên tục từ nhân viên y tế mỗi khi đi tái khám kết hợp với sử dụng điện thoại thông minh để liên tục được nhắc nhở về thói quen uống thuốc đúng giờ, theo dõi cân nặng, đường huyết và giáo dục về chế độ ăn giúp bệnh nhân có thêm kiến thức về quản lý bệnh tật đái tháo đường và gia tăng sự tự tin về tự quản lý đường huyết thông qua những chỉ số đường huyết được cải thiện ở nhóm có can thiệp.

5.3.3. Thay đổi kiến thức

Chương trình tư vấn, giáo dục sức khỏe đã có hiệu quả nâng cao kiến thức của người bệnh ĐTĐ típ 2, thể hiện rõ ở sự khác biệt về điểm trung vị kiến thức của nhóm can thiệp (18 điểm) và nhóm chứng (17 điểm), (p<0,039)–bảng 6. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Bradshaw [49]. Đây chính là nền tảng thúc đẩy sự chuyển biến trong hoạt động tự quản lý bệnh của người bệnh nói chung và đặc biệt là ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

6. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Thời gian can thiệp tương đối ngắn (3 tháng) nên chưa đánh giá được hiệu quả lâu dài của chương trình giáo dục tự quản thông qua ứng dụng điện thoại thông minh đối với kiểm soát đường huyết. Cỡ mẫu còn hạn chế một phần do nhóm được để sử dụng ứng dụng trong việc theo dõi bệnh còn ít và được chọn tại một cơ sở nghiên cứu, do đó tính đại diện cho cộng đồng bệnh nhân đái tháo đường típ 2 còn chưa cao. Chọn mẫu ngẫu nhiên nhưng ở bệnh nhân được lựa chọn để đưa vào nhóm can thiệp trẻ tuổi có kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh tốt hơn đó cũng là điểm yếu của nghiên cứu có thời gian nghiên cứu dài hơn sẽ tập trung vào nhóm có độ tuổi giống nhau sẽ hạn chế được những sai số cho nghiên cứu. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân có smartphone và sử dụng được các chức năng cơ bản có thể làm giảm tính đại diện của mẫu, đặc biệt đối với nhóm bệnh nhân lớn tuổi hoặc có điều kiện kinh tế – xã hội hạn chế. Trong tương lai, các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung phát triển các chương trình hỗ trợ đơn giản hơn (ví dụ: SMS, cuộc gọi tư vấn, hoặc thiết bị hỗ trợ người lớn tuổi), hoặc triển khai mô hình giáo dục tự quản kết hợp nhiều hình thức để mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhóm bệnh nhân không sử dụng smartphone.

7. Kết luận – kiến nghị

7.1. Kết luận

Qua nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục tự quản kiểm soát đường huyết và thay đổi lối sống thông qua ứng dụng điện thoại thông minh ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, có thể rút ra các kết luận sau:

Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 còn chưa đạt mục tiêu, với tỷ lệ lớn bệnh nhân có HbA1c ≥ 7%. Chương trình giáo dục tự quản qua ứng dụng điện thoại thông minh giúp cải thiện đáng kể HbA1c, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân sử dụng ứng dụng thường xuyên, thay đổi kiến thức và giảm BMI..

7.2. Kiến nghị

Cần tăng cường triển khai các chương trình giáo dục tự quản cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2, đặc biệt là ứng dụng các giải pháp y học số như ứng dụng điện thoại thông minh. Khuyến khích bệnh nhân tham gia giáo dục tự quản sớm ngay từ khi chẩn đoán, nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát đường huyết và phòng ngừa biến chứng. Nhân viên y tế cần đóng vai trò hướng dẫn, theo dõi và phản hồi thường xuyên để nâng cao mức độ tuân thủ của người bệnh. Cần tích hợp các ứng dụng hỗ trợ tự quản vào chương trình quản lý bệnh mạn tính tại các cơ sở y tế. Xây dựng các chương trình đào tạo nhằm nâng cao năng lực sử dụng công nghệ số cho cán bộ y tế và người bệnh. Nên tiến hành các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, đa trung tâm và thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá hiệu quả bền vững của can thiệp. Cần phân tích thêm các yếu tố tâm lý – xã hội và kinh tế có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình giáo dục tự quản qua ứng dụng điện thoại thông minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2, Bộ Y tế, Hà Nội.

2. Đỗ Thị Thu Huyền, Tương Quang Trung, Nguyễn Thanh Xuân, Hoàng Tuấn Anh, Phạm Thị Thanh Phượng, Dương Thị Thu Huyền (2021), “Dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến tự quản chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2020”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 143(7), 115–122.

3. Nguyễn Thị Kiều Mi, Lê Hồ Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Minh Tâm (2017), “Khảo sát hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại một số xã, phường tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế, 7(3).

4. Ahmad F, Joshi SH (2019), “Self-Care Practices and Their Role in the Control of Diabetes: A Narrative Review”, Diabetes Technology & Therapeutics, 21(S2), 252–258.

5. Eberle C, Löhnert M, Stichling S (2021), “Effectiveness of Disease-Specific mHealth Apps in Patients With Diabetes Mellitus: Scoping Review”, JMIR mHealth and uHealth, 9(2), e23477.

6. Hansel B, Giral P, Gambotti L, Lafourcade A, Peres G, Filipecki C, et al (2017), “A Fully Automated Web-Based Program Improves Lifestyle Habits and HbA1c in Patients With Type 2 Diabetes and Abdominal Obesity: Randomized Trial of Patient E-Coaching Nutritional Support (The ANODE Study)”, Journal of Medical Internet Research, 19(11).

7. IDF (2021), IDF Diabetes Atlas, International Diabetes Federation, Brussels.

8. Sugandh F, Chandio M, Raveena F, Kumar L, Karishma F, Khuwaja S, et al (2023), “Advances in the Management of Diabetes Mellitus: A Focus on Personalized Medicine”, Cureus, 15(8), e43697.

9. Bradshaw RD (2015), Diabetes Self-Management Education for Adults With Type 2 Diabetes Mellitus, Walden University, Minnesota.

10. Powers MA, Bardsley J, Cypress M, et al (2020), “Diabetes self-management education and support in adults with type 2 diabetes: A consensus report of the American Diabetes Association, the Association of Diabetes Care & Education Specialists, the Academy of Nutrition and Dietetics, the American Academy of Family Physicians, the American Academy of PAs, the American Association of Nurse Practitioners, and the American Pharmacists Association”, Diabetes Care, 43(7), 1636–1649.

11. Bonoto BC, de Araújo VE, Godói IP, et al (2017), “Efficacy of mobile apps to support the care of patients with diabetes mellitus: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials”, JMIR mHealth and uHealth, 5(3), e4.